Thứ Ba, 5 tháng 11, 2019

Củ cải trắng chữa bệnh

Không chỉ là thực phẩm phổ thông trong mùa thu - đông, củ cải trắng còn là một vị thuốc chữa bệnh. Theo Đông y, củ cải tươi sống có vị cay, tính mát, củ cải nấu chín có vị ngọt, tính bình, quy kinh phế và vị, có công dụng chữa một số bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu,…

Một số đơn thuốc dùng củ cải trắng

Chữa ho nhiều, người mỏi mệt, suy nhược : Củ cải trắng 1kg, lê 1kg, gừng tươi 250g, sữa tươi 250g, mật ong 250g. Lê gọt vỏ, bỏ hạt, giã nhỏ; củ cải, gừng tươi rửa sạch, giã nhỏ. Cho từng thứ vào vải xô vắt lấy nước cốt để riêng. Đổ nước củ cải, lê vào nồi đun sôi, sau đó bớt lửa đun cho đến khi đặc dính thì cho nước gừng, sữa, mật ong vào khuấy đều, đun sôi lại. Khi nguội thì cho vào lọ đậy kín dùng dần, mỗi lần uống 10 -15ml, pha với nước ấm nóng uống, ngày uống 2 lần.

Hỗ trợ điều trị viêm phế quản mạn ở người cao tuổi: Củ cải trắng 250g, đường phèn, mật ong vừa đủ, một bát con nước. Sắc đến khi còn nửa bát con nước, ăn củ cải và uống nước. Mỗi ngày 2 lần vào buổi sáng và tối. Dùng 7 - 10 ngày là một liệu trình.

Chữa ho do hen phế quản, nhiều đờm: Hạt củ cải rửa sạch, phơi khô, tẩm nước gừng tươi, sao vàng, tán thành bột mịn. Lấy 5 vỏ quýt và 1 nhánh gừng cho vào nồi đun sôi kỹ lấy 40 - 50ml nước đặc, gạn trong, sau đó cho thêm một thìa bột gạo quấy đều đun chín. Lấy nước hồ đó cho vào bột hạt củ cải, trộn đều đem viên thành viên nhỏ bằng hạt đỗ đen, uống 15 - 20 viên/lần, hằng ngày uống trước bữa ăn.

Chữa táo bón, miệng khô đắng: Dùng củ cải tươi xào với tỏi ăn trong bữa cơm. Ngày 2 lần. Ăn trong 3 - 5 ngày.

Chữa khản tiếng, mất tiếng: Dùng nước ép củ cải tươi, trộn thêm nước ép của 2 - 3 lát gừng tươi, ngậm nuốt dần. Ngậm nhiều lần trong ngày.

Viêm loét miệng do nhiệt: Củ cải tươi giã vắt lấy nước cốt ngậm rồi súc miệng nhiều lần trong ngày.

Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Củ cải 200g, gạo tẻ 50g, gạo nếp 50g, nấu thành cháo. Ăn nóng, ngày 1 lần. Có thể ăn thẳng thớm.

Phòng và điều trị viêm loét dạ dày: Ăn củ cải thẳng tuột có tác dụng tốt cho tiêu hóa do củ cải có khả năng hấp thu tinh bột trong thực phẩm, có thể hóa giải thức ăn tích tụ trong dạ dày, có tác dụng chữa khó tiêu, kích thích tiêu hóa, phòng và điều trị viêm loét bao tử.

Bác sĩ Thúy An

4 bước đơn giản làm chả đậu phụ đổi món cho cả nhà ngon miệng

4 bước đơn giản làm chả đậu phụ đổi món cho cả nhà ngon miệng - Ảnh 1.

vật liệu:

100g đậu phụ

20g bí ngòi

2 quả trứng

5g cà rốt

5g sò điệp

Vài lát gừng

Hạt nêm

Cách làm:

Cho sò điệp vào bát, thêm lát gừng vào cùng với nước chín ngâm qua đêm cho mềm. Sau khi ngâm lấy sò điệp ra thái nhỏ. Nếu không có sò điệp, bạn dùng tôm khô vừa nhanh hơn mà lại không kém phần ngon miệng đâu nhé!

4 bước đơn giản làm chả đậu phụ đổi món cho cả nhà ngon miệng - Ảnh 2.

Bí ngòi, cà rốt sơ chế sạch rồi thái nhỏ. Đậu phụ chần qua nước sôi sau đó vớt ra thái miếng, cho vào bát rồi dùng thìa nghiền nát.

4 bước đơn giản làm chả đậu phụ đổi món cho cả nhà ngon miệng - Ảnh 3.

Đập trứng vào bát đậu phụ, thêm bí ngòi và cà rốt vào cùng sò điệp và hạt nêm trộn đều. Đổ hỗn tạp đậu phụ vào khuôn đã lót giấy nến (hoặc quét một lớp mỏng dầu ăn vào trong khuôn để chống dính).

4 bước đơn giản làm chả đậu phụ đổi món cho cả nhà ngon miệng - Ảnh 4.

Để khuôn đậu phụ vào nồi hấp, hấp ở lửa vừa trong khoảng 25 phút là chín. Lấy khuôn ra, nhẹ nhõm gỡ chả đậu phụ ra rồi thái miếng vừa ăn là xong.

4 bước đơn giản làm chả đậu phụ đổi món cho cả nhà ngon miệng - Ảnh 5.

Thành phẩm:

Chả đậu phụ mềm mượt được làm theo cách trên quả thực rất nhanh và đơn giản. Món ăn khá mềm, song song chứa nhiều canxi nên hợp cho gia đình có người già và trẻ nhỏ.

4 bước đơn giản làm chả đậu phụ đổi món cho cả nhà ngon miệng - Ảnh 6.

Chúc bạn làm được món chả đậu phụ thật ngon nhé!

Nguồn: Sohu.com

Giầy cao gót - tiềm ẩn nguy cơ với sức khỏe phụ nữ

Không ai phủ nhận tác dụng của giầy cao gót đối với phái đẹp, song theo nghiên cứu và qua thực tiễn cho thấy mặt trái của giầy cao gót không hề nhỏ và dễ bị bỏ qua, thậm chí còn được ví là "kẻ đánh cắp sức khỏe đàn bà".

1/3 phụ nữ gặp sự cố khi đi giầy cao gót

Phải nói ngay rằng, giầy cao gót được xem là cứu tinh nhóm phụ nữ có chiều cao khiêm tốn và cũng theo nghiên cứu thì có tới 1/3 đàn bà "đệ tử" của phương tiện làm đẹp này phát triển những "phản ứng phụ" gây đau nhức, nhất là những người đi giày dài kỳ và liên tiếp, như hiện tượng ngón chân hình búa, viêm tấy ngón cho tới bong móng tím bầm và cả chấn thương gân. Rất nhiều sự cố diễn ra liên tục, tái diễn do người trong cuộc không chịu rời bỏ giầy. Giầy cao gót thường được nhóm người nức tiếng ưa dùng, ngoài việc giá cả đắt thì mặt trái gây thương tổn lại bị lấn át, nên nó được ví là "đôi giày giết người" hay "kẻ ăn trộm sức khỏe của phụ nữ". phổ quát như bong gân mắt cá, đau nhức mạn tính, tạo ra những cục lồi ở gót chân, đau nhức gót, phồng rộp, xưng viêm và làm đổi thay phong độ thân thể. Đi giầy cao gót càng lâu thì phong độ lại càng bị biến dạng do trọng lực dồn về phía trước và khi cúi, làm cho cột sống thay đổi, tạo sức ép lên dây tâm thần cột sống.

Mat-trai-cua-giay-cao-got-voi-suc-khoe-phu-nu
Mặt trái của giầy cao gót đối với sức khỏe phụ nữ không hề nhỏ

Những hệ lụy từ giầy cao gót và giải pháp

Theo các chuyên gia ở Hiệp hội chẩn đoán và điều trị các loại bệnh về chân (SCP) của Mỹ thì những người đi giầy cao gót , đặc biệt là nhóm siêu cao gót thường mắc các chứng bệnh như:

Xuất hiện cục lồi ở gót chân: Đối với giầy cao gót nếu đi lâu, trực tính thường nảy sinh khối u đau nhức gọi là “cục lồi chân”. Sức đè ép làm cho bàn chân phồng rộp, sưng tấy, viêm túi dịch, đau ở gót chân, gây lồi xương vĩnh viễn. Nên thay bằng giày thấp gót, nếu đau nên chườm nước đá, điều trị chấn thương chỉnh hình, và dùng đệm gót chân.

Biến dạng phong thái đứng: Giầy cao gót làm cho trọng lực dồn xuống bàn chân, tác động đến cấu trúc xương bàn chân. Lâu ngày tạo áp lực gây viêm xương hoặc các dây tâm thần xung quanh bàn chân, làm rạn mao mạch và biến dạng thế đứng.. Theo SCP, nên thay bằng giày thấp gót, cao không quá 2 inxơ (dưới 5cm) và không nên đi quá lâu.

Bong gân mắt cá: Hiện tượng này xảy ra khi chân bị trật ra khỏi giày khiến cho các dây chằng mắt cá căng ra và bong, nếu nặng có thể làm rách dây chằng. Nên băng bó nhất mực và vận dụng giải pháp vật lý trị liệu và điều trị chấn thương càng sớm càng tốt để dự phòng biến chứng viêm xương khớp kinh niên.

Đi cà nhắc : Nhất là nhóm dùng giày có gót nhọn, lý do trọng lượng thân thể dồn về phía trước làm cho chân bị bó hẹp, gây đau nhức phải đi khập khiễng, lắc lư động dao, dễ bị vấp ngã. Nên thay bằng giày gót thấp và phẳng

Bướu lồi đau nhức ở ngón chân cái hay còn gọi là viêm bao hoạt dịch ngón chân cái, làm cho ngón chân gập xuống bất thường giống như hình chiếc búa. Thủ phạm chính là do bó ép, hình thành mô hoặc xương tại đáy khớp. Nhất là nhóm người ưa dùng giày cao gót mũi nhọn lâu ngày. Nên thay giày có gót thấp, tránh đi giày mũi nhọn, bó ép quá mức.

giay-cao-got-chua-nguy-co-tiem-an-voi-suc-khoe

Giầy cao gót ẩn chứa nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khoẻ mà ít ai có thể nhận ra được

Ngón chân bị biến dạng : phần đông giầy cao gót thường làm cho trọng lượng thân thể bị dồn quá nhiều về phía mũi, làm cho các ngón kết lại với nhau. Và lâu ngày bị biến dạng như cong lên, khoằm xuống, khuỷu khớp các ngón trở thành chai cứng, đau đớn. Giải pháp, nếu trầm trọng có thể phải can thiệp bằng giải phẫu và nên thay ngay bằng các loại giày thấp gót, có độ rộng hợp lý.

thương tổn đầu gối, căng cơ : Theo nghiên cứu, có tới 25% đi giầy cao gót, nhất là nhóm siêu cao gót với thời kì dài dễ bị thương tổn dây chằng đầu gối và dẫn đến viêm khớp, mắc bệnh tê thấp do áp lực cơ thể đè lên và do thương tổn cục bộ ở bàn chân gây ra. ngoại giả, nó còn gây căng cơ, đau đầu gối và đau lưng. Đặc biệt, nếu lạm dụng còn gây tổn thương gân Asin (Achilles), đây là hệ thống gân quan yếu giúp duy trì phong thái cân bằng khi di chuyển, nếu tổn thương sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc đi lại, đặc biệt là hiện tượng biến dạng và viêm nhiễm, chuyên môn gọi là viêm gân (tendinitis) rất khó phục hồi.

Xu hướng giầy có lợi cho sức khỏe

di-giay-cao-got-khien-khop-xuong-ban-chan-bi-dau
Đi giày cao gót lâu sẽ khiến khớp xương bàn chân bị đau

Giầy đế dày, gót tròn được xem là xu thế mới, vừa đẹp lại ít gây hại đến đến sức khỏe con người, giúp di chuyển dễ dàng, phù hợp cho mọi đối tượng, kể cả nhóm người bị biến dạng chân thể nhẹ. Riêng nhóm người cao tuổi, người bị các bệnh ảnh hưởng đến phong thái thân hoặc mắc bệnh về cơ bắp, đầu gối thì không nên đi giày cao gót. Khi dùng giày cần quan tâm đến ba tiêu chí như độ mềm, nhất là ở phần mũi, nhưng không được quá mềm. Giầy phải đỡ được tuốt tuột chân ở mức thăng bằng, và nên chọn giày có gót to, chiều cao không quá 2 in-xơ (khoảng 5 cm). Riêng trẻ nhỏ, không khuyến khích đi giầy dép cao gót, vì theo nghiên cứu, trước khi qua tuổi dậy thì hay 20 năm đầu đời, hormone và xương đang được định hình, nếu dùng giầy dép cao gót sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển xương, hệ thống dây chằng và phong thái, vì vậy nên dùng các loại giày dép rộng, đế phẳng, dễ đi nhằm giúp trẻ phát triển thể chất toàn diện ngay từ những năm đầu đời.

Khắc Nam

( Theo WMD/DailyMail - 9/2014 )

32 bệnh viện cải thiện chất lượng dinh dưỡng lâm sàng cho người bệnh nội trú

Nữ bệnh nhân 76 tuổi, ở TP Hồ Chí Minh đến Bệnh viện Chợ Rẫy làm thủ tục thăm khám, với chẩn đoán ung thư ruột già sigma, theo dõi bán tắc ruột.

khai hoang bệnh sử của bệnh nhân được biết, một tháng trước khi vào viện, bệnh nhân ăn giảm sút vì ăn vào đau và chướng bụng. Bệnh nhân cốt yếu ăn cháo lỏng, và chỉ uống khoảng 200ml/ ngày. Bệnh nhân bị sụt cân nhưng không rõ tiền sử.

song song do bệnh nhân nằm nhiều vì yếu sức chẳng thể đi lại nên khi nhập viện, bệnh nhân đã bị teo cơ nặng.

“Vấn đề đặt ra là nên bắt đầu điều trị ung thư cho bệnh nhân luôn hay điều trị dinh dưỡng trước. Một cuộc hội chẩn liên khoa đã được diễn ra, và chúng tôi đã quyết định điều trị dinh dưỡng cho bệnh nhân trước khi điều trị ung thư”- TS. BS Lưu Ngân Tâm- Trưởng Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Chợ Rẫy cho biết.

TS Tâm thông tin, sau 2 tuần hăng hái điều trị dinh dưỡng, thể trạng của bệnh nhân đã đổi thay, bệnh nhân đã tăng 3 kg, bắt đầu đi lại được. Bệnh nhân sau đó đã được giải phẫu cắt khối ung thư. Sau hai tuần điều trị, bệnh nhân đã khoẻ mạnh và xuất viện.

“Qua đây cho thấy vấn đề dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong công tác điều trị và phục hồi thể trạng cho người bệnh”- TS Lưu Ngân Tâm nhấn mạnh.

Những thông báo trên được TS Tâm đưa ra tại tội thảo tập huấn Dự án hỗ trợ cải thiện chất lượng dinh dưỡng lâm sàng trong bệnh viện tại Việt Nam (VN QIP) do Cục Quản lý Khám chữa bệnh (Bộ Y tế) vừa tổ chức tại Hà Nộị. Lãnh đạo các bệnh viện, trưởng khoa dinh dưỡng của gần 30 bệnh viện trên cả nước đã tham gia Hội thảo này.

Bữa ăn dinh dưỡng được viên chức y tế phục vụ tận giường bệnh cho những bệnh nhân lớn tuổi, hoặc đi lại khó khăn tại Khoa Nội, Bệnh viện đa khoa Bà Rịa. Ảnh Báo Bà Rịa - Vũng Tàu

Phát biểu tại hội thảo, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh Nguyễn Trọng Khoa nhấn mạnh, dinh dưỡng bệnh viện có vai trò quan trọng trong điều trị và bình phục thể trạng cho người bệnh. “Dinh dưỡng là thuốc, thuốc là dinh dưỡng” phải được coi là nhiệm vụ quan trọng bên cạnh nhiệm vụ điều trị bệnh.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác dinh dương trong các bệnh viện vẫn còn nhiều hạn chế. Đó là tình trạng thiếu bộ phận chuyên môn chẩn đoán, điều trị dinh dưỡng; dinh dưỡng cho người bệnh chưa được đưa vào giá dịch vụ y tế; công tác đào tạo kiến thức dinh dưỡng cho thầy thuốc, bệnh nhân còn hạn chế...

Ngày 10/5/2019, Cục Khám chữa bệnh đã ban hành hình định số 93 QĐ-KCB về việc ưng chuẩn quy trình gạn lọc tình trạng dinh dưỡng cho người bệnh nội trú. Quyết định đã nêu ra nhiệm vụ quan trọng của các bệnh viện trong việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh trước và sau khi ra viện và vấn đề dinh dưỡng bệnh viện trong quá trình nằm viện của người bệnh.

Trước đó, Bộ Y tế đã ký kết Bản ghi nhớ cộng tác khai triển dự án “Cải thiện chất lượng dinh dưỡng lâm sàng trong các bệnh viện tại Việt Nam” nhằm nâng cao sức khỏe cho bệnh nhân và hiệu quả điều trị tại các bệnh viện.

Dự án “Cải thiện chất lượng dinh dưỡng lâm sàng trong các bệnh viện tại Việt Nam” tụ tập vào xây dựng chương trình cải thiện chất lượng dinh dưỡng lâm sàng ứng dụng trong các bệnh viện tại Việt Nam (VN QIP) bao gồm công cụ chắt lọc dinh dưỡng và quy trình đánh giá dinh dưỡng người bệnh trong bệnh viện, tổ chức đào tạo, hướng dẫn quy trình thực hành VN QIP và quy trình dinh dưỡng lâm sàng chuyên môn cho các cán bộ và nhân viên y tế tại bệnh viện và thực hành chỉ dẫn dinh dưỡng lâm sàng tại bệnh viện Việt Nam.



Ghi nhận ban đầu khi khai triển tại 7 bệnh viện lớn như Chợ Rẫy, Bạch Mai, Hữu nghị, Quân y 354, Quân y 175, Nhân dân và Bệnh viện đa khoa Bà Rịa có 80-90% số khoa trong bệnh viện thực hành sàng lọc tình trạng dinh dưỡng; Tỷ lệ người bệnh nội trú được chắt lọc tình trạng dinh dưỡng từ 51,4% đến 90%.



Kết quả chắt lọc tình trạng dinh dưỡng được ghi vào trong hồ sơ người bệnh; hồ hết người bệnh nội trú được hướng dẫn sử dụng dinh dưỡng đường uống có chứng minh lâm sàng ngay sau khi nhập viện (tỉ lệ khi chưa khai triển là 0/7). Người thực hiện gạn lọc: là cán bộ dinh dưỡng, điều dưỡng và bác sỹ điều trị nhưng chính yếu là điều dưỡng tại các khoa lâm sàng. hồ hết người bệnh được hỏi có dùng dung dịch dinh dưỡng đường uống trong 48 giờ đầu.



Cục Quản lý Khám chữa bệnh cho biết, sau khi triển khai thử nghiệm tại 7 bệnh viện, dự án sẽ nhân rộng và khai triển tại 25 bệnh viện vể gạn lọc dinh dưỡng cho người bệnh nội trú.

thái hoà

Viêm loét giác mạc, tránh thế nào?

Viêm loét giác mạc là khi giác mạc bị trầy và bị nhiễm trùng gây phản ứng viêm. Đây là một bệnh rất hiểm nguy vì có thể để lại những di chứng vĩnh viễn như sẹo giác mạc, lồi mắt cua, thủng nhãn cầu, thậm chí là đánh mất một phần hoặc tất tật nhãn quan.

duyên cớ gây viêm giác mạc

Chấn thương là một trong những căn do gây viêm giác mạc. Nếu một vật cứng rơi vào mắt và làm xước hoặc thâm nhập giác mạc, bạn có thể bị viêm giác mạc. Điều này có thể không gây nhiễm trùng, nhưng khi bề mặt của giác mạc bị tổn thương, vi khuẩn hoặc nấm có thể xâm nhập giác mạc, gây viêm giác mạc.

Những người đeo kính áp tròng có nguy cơ viêm giác mạc cao hơn. Kính áp tròng bị nhiễm bẩn góp đa số gây ra các trường hợp viêm giác mạc. Khi kính áp tròng bị ô nhiễm, vi khuẩn, nấm hoặc ký sinh trùng sống trên bề mặt của nó và lan sang hộp đựng kính. Nếu kính áp tròng của bạn không được vệ sinh cẩn thận, vi khuẩn từ kính có thể nhiễm vào mắt và gây ra viêm giác mạc.

Nếu bạn tiếp xúc với nước bị ô nhiễm, bạn cũng có thể bị viêm giác mạc. Một số hóa chất trong nước có thể làm cho các mô tinh tế của bề mặt giác mạc bị kích thích và suy yếu, dẫn đến viêm giác mạc. Vấn đề này thường xảy ra trong thời gian ngắn và có thể kéo dài vài phút đến vài giờ. Tuy nhiên, kích thích bởi hóa chất có thể được giải quyết bằng cách rửa sạch mắt. Nếu nước bị nhiễm vi khuẩn, nấm và ký sinh trùng, chúng có thể xâm nhập mắt khi bạn đang bơi và dẫn đến viêm giác mạc.

Một nguyên do khác của viêm giác mạc là virut, như virus herpes và virut gây ra bệnh chlamydia, có thể gây viêm giác mạc.

Những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc viêm giác mạc

Có rất nhiều nguyên tố nguy cơ gây mắc viêm giác mạc như: đeo kính áp tròng, giảm khả năng miễn nhiễm, sống ở khí hậu ấm áp, sử dụng dung dịch nhỏ mắt có corticosteroid, một chấn thương mắt trong kí vãng.

Triệu chứng viêm giác mạc

Triệu chứng của bệnh gồm: đau nhức âm ỉ, đau dội lên khi có kích thích như ánh sáng, vận động mắt. Bệnh nhân luôn nhắm nghiền mắt vì sợ ánh sáng. Chảy nước mắt: khi bệnh nhân mở mắt thấy nước mắt chảy đằm đìa. Giảm nhãn quang nhiều so với trước khi đau mắt là một triệu chứng để chẩn đoán phân biệt với viêm kết mạc. Bệnh có thể dẫn đến: thành sẹo làm giảm thị lực; loét sâu hoại tử đến hết lớp nhu mô, viêm mủ nội nhãn... Do các hậu quả nặng như thế nên việc phát hiện và điều trị sớm bệnh viêm loét giác mạc rất quan yếu để hạn chế thương tổn vĩnh viễn và giảm nhãn lực. nên, bạn phải đi khám chuyên khoa mắt để được chẩn đoán và điều trị càng sớm càng tốt.

Những phương pháp nào dùng để điều trị viêm giác mạc?

Nếu được chẩn đoán viêm giác mạc không do nhiễm trùng, nguyên cớ gây ra tình trạng này sẽ quyết định cách điều trị. Điều trị có thể không cấp thiết nếu duyên cớ gây ra là do xước hoặc đeo kính áp tròng quá lâu. Trong trường hợp giác mạc bị rách đáng kể và đớn đau, dùng thuốc theo toa cho mắt và đeo miếng che mắt cho đến khi tình trạng của bạn được cải thiện là sự chọn lựa tốt nhất.

Nếu bạn được chẩn đoán viêm giác mạc do nhiễm trùng, điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân của nhiễm trùng. Nếu bạn bị viêm giác mạc nhẹ do vi khuẩn, chỉ cần điều trị kháng khuẩn với thuốc nhỏ mắt. Uống thuốc kháng sinh nếu tình trạng ở chừng độ từ làng nhàng đến nặng. Khi bạn bị viêm giác mạc do nấm, bạn cần phải sử dụng thuốc nhỏ mắt và thuốc kháng nấm. Nếu viêm giác mạc gây ra do virut, thuốc nhỏ mắt và thuốc kháng virut có thể có hiệu quả. Nếu viêm giác mạc là do ký sinh trùng Acanthamoeba tí xíu, việc điều trị sẽ khó khăn hơn. Thuốc kháng sinh nhỏ mắt có thể có ích, nhưng một số nhiễm trùng Acanthamoeba đề kháng với thuốc.

Ghép giác mạc được khuyến khích nếu thuốc không có tác dụng hoặc nếu viêm nhiễm gây tổn thương vĩnh viễn đến giác mạc và làm suy yếu nhãn quang đáng kể.

Lời khuyên thầy thuốc



Phòng bệnh viêm giác mạc, người dân cần dùng các biện pháp bảo hộ mắt khi làm việc trong môi trường nhiều khói, bụi...; sử dụng kính râm khi di chuyển ngoài đường tránh bụi và dị vật bay vào mắt; Dùng kính bảo vệ mắt trong trường hợp bị hở mi; Điều trị dứt điểm các bệnh về mắt và bệnh toàn thân có nguy cơ gây viêm giác mạc; Không dùng tay dụi mắt, không tự dùng các vật dụng để lấy dị vật, không đắp các loại thuốc lá trực tiếp vào mắt; Cung cấp đủ vitamin A cho mắt và thẳng chớp mắt để tránh khô mắt. để ý khi sử dụng kính áp tròng vệ sinh trước và sau khi đeo kính.



Bệnh viêm giác mạc rất hay gặp và là một trong những duyên cớ gây giảm nhãn lực, mù lòa. Chính vì những biến chứng do bệnh để lại nghiêm trọng nên người bệnh khi thấy các triệu chứng khó chịu ở mắt nên đến các cơ sở y tế uy tín để được khám, chẩn đoán và điều trị kịp thời.

BS. Minh Châu