Thứ Ba, 12 tháng 11, 2019

Nanomedicine và hàng rào sinh học của cơ thể

Thuốc nói chung muốn phát huy tác dụng phải được tiếp thu và phân bố tại đích tác động mong muốn. Tuy nhiên, muốn đi đến được đích tác động, các phân tử thuốc phải vượt qua được các hàng rào sinh vật học của cơ thể. Và hàng rào sinh vật học cũng chính là cơ chế tự bảo vệ của thân khỏi sự xâm nhập của các chất độc cũng như các chất ngoại sinh. Nhiều loại thuốc có tác dụng khi nghiên cứu trong phòng thí điểm (in vitro) nhưng lại thất bại khi thể nghiệm trên động vật hoặc trên người cũng phần đông là do không thể xâm nhập qua hàng rào sinh học của cơ thể để đến được đích tác động. Một trong những ưu điểm vượt trội của các thuốc khi được bào chế dưới dạng nano là có thể cải thiện khả năng thâm nhập qua các hàng rào sinh vật học và sự phân bố của thuốc đến các vị trí tác động mong muốn.

Hàng rào sinh vật học của thân là gì?

Dưới giác độ tổng quát, hàng rào sinh học về mặt bản tính là các lớp tế bào được sắp xếp với nhau để ngăn cách các khoang chứa cũng như các cơ quan khác nhau trong thân thể. Có thể kể đến một số hàng rào sinh học của cơ thể như hàng rào biểu mô (ruột, ống thận), hàng rào máu não, hàng rào nhau thai. Dưới giác độ các cơ quan, hàng rào sinh vật học của các cơ quan chính là các lớp tế bào biểu mô lớp ngoài cùng của các cơ quan và hàng rào nội mô huyết mạch (ngăn cách giữa mao mạch và các tế bào nội mô). Dưới góc độ tế bào, hàng rào sinh vật học của tế bào chính là màng tế bào ngăn cách giữa môi trường nội bào và ngoại bào.

Nanomedicine và hàng rào sinh học của cơ thể Các hạt nano thường quá lớn để thấm vào một số mô (ảnh trên) và các hạt nano mới nhỏ hơn nên có thể đi qua các mô này (ảnh dưới).

Dù dưới định nghĩa hay xét dưới giác độ nào đi chăng nữa, hàng rào sinh vật học đều có chức năng cản ngăn sự thâm nhập của các chất ngoại sinh để bảo vệ thân thể, và đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự phân bố khác nhau của thuốc ở các khoang dịch thể (ví dụ như dịch vị, huyết tương, nước giải, dịch não tủy...). Nói chung, thuốc đối với cơ thể cũng là các chất ngoại sinh, chính vì vậy, các hàng rào cũng cản trở đáng kể sự thâm nhập của thuốc đến các vị trí mong muốn. Để đi qua được các hàng rào sinh học của thân, các thuốc phải có các tính chất vật lý, hóa học, sinh vật học thích hợp (kích thước, độ phân cực, điện tích). Hay nói cách khác, việc đi xuyên qua các hàng rào này là có tính chọn lọc và chuẩn y các cơ chế khác nhau. Một tỉ dụ điển hình như trong trường hợp của dopamine, một chất dẫn truyền tâm thần có vai trò quan yếu đối với bệnh Parkinson (khó kiểm soát vận động, run tay, run chân thường gặp ở người lớn tuổi). Do dopamine không đi qua được hàng rào máu não nên việc sử dụng trực tiếp dopamine bằng đường uống hay đường tiêm tĩnh mạch không mang lại hiệu quả điều trị đáng kể đối với bệnh Parkinson.

Lợi thế của nanomedicine

Trong việc áp dụng công nghệ nano trong điều trị, các nhà khoa học không chỉ có thể tạo ra hoạt chất, nguyên liệu sinh học có kích tấc nano (từ 10nm đến 100nm) để cải thiện độ tan, tăng cường khả năng thu nhận vào thân; mà còn hướng đến tạo ra các hệ mang thuốc có các thuộc tính ưu việt để đưa thuốc đến các vị trí mong muốn mà các phân tử thuốc thông thường chẳng thể đến được hoặc phân bố không hiệu quả.

trước hết, phải kể đến hiện tượng lưu giữ và thẩm thấu tăng cường, một trong những đặc tính ưu việt của nanomedicine trong việc thay đổi khả năng đi qua hàng rào sinh học của thân so với các phân tử thuốc thường ngày. Do có kích tấc trong khoảng từ 10 đến 100nm, tại đó, nanomedicine gặp khó khăn trong việc khuếch tán qua các kênh đàm luận có kích thước bé ở các cơ quan thường nhật nhưng lại dễ dàng khuếch tán và hội tụ vào các vị trí bệnh lý (như khối u, vùng bị thương tổn...) do kích thước các kênh đàm đạo ở các vị trí này thường lớn hơn để đáp ứng cho nhu cầu cao sử dụng oxy và các chất dinh dưỡng. Chính vì vậy, các thuốc nano có khả năng tập trung cao hơn ở các vùng bệnh lý và ít gây ảnh hưởng đến các vị trí khác trong thân thể. Nhờ đó, có thể điều trị một cách hướng đích, hiệu quả tại vị trí mong muốn và giảm các tác dụng không mong muốn đến các vị trí, cơ quan khác của thân thể.

Hơn nữa, nhờ kích tấc lớn hơn các phân tử thuốc hòa tan thông thường, thuốc nano có thể ở lại trong hệ tuần hoàn lâu hơn, và kéo dài tác dụng của thuốc, giảm số lần dùng thuốc, duy trì nồng độ thuốc trong ngưỡng điều trị mong muốn. tỉ dụ như thuốc doxil, một trong những thuốc nano trước nhất được chấp thuận và cấp phép lưu hành trên thị trường để điều trị ung thư. Trong đó, doxorubicin (thuốc dùng trong hóa trị) được đưa vào trong một hệ liposome mang thuốc có kích thước nano. Bệnh nhân dùng doxil ít gặp phải các tác dụng phụ đáng kể như khi dùng các thuốc hóa trị thông thường.

Nanomedicine và hàng rào sinh học của cơ thể Các hạt nano tiến công vào khối u phổi.

Bên cạnh việc kiểm soát kích thước để thay đổi khả năng phân bố của thuốc (cơ chế về mặt vật lý), các nhà khoa học trong lĩnh vực nano còn hướng đến tạo ra những hệ nano mang thuốc có thể vượt qua hàng rào sinh vật học chuẩn y các cơ chế khác về mặt hóa học, sinh vật học. Khi ở bên trong thân, các hệ nano mang thuốc chuyên chở các thuốc bên trong xâm nhập qua các hàng rào sinh vật học một cách hiệu quả. Nhìn chung, có các cơ chế xuyên màng chính yếu sau: Khuếch tán trực tiếp qua lớp lipid, khuếch tán qua các lỗ thân nước, xuyên màng qua các chất mang, và xuyên màng chuẩn y cơ chế nhập bào và thải bào. Trong đó xét về mặt hóa học, bằng cách thay đổi độ thân nước và thân dầu và điều chỉnh thiết kế bề mặt, mà các hệ nano mang thuốc có thể xuyên màng tốt hơn do bản tính của các hàng rào sinh vật học là các lớp tế bào sắp đặt với nhau. Trong đó, nano micelle và liposome chính là những hệ mang thuốc giúp chuyên chở thuốc đi qua các hàng rào sinh học một cách hiệu quả. ví dụ như trong một nghiên cứu gần đây ban bố trên tập san International Journal of Pharmaceutics của tác giả Kensuke Yotsumoto, thuốc indomethacin được vận chuyển trong hệ polymer micelle có khả năng thấm qua da tốt hơn đáng kể so với thuốc indomethacin thông thường.

Dưới giác độ sinh vật học, do kích thước của các thuốc nano nhỏ hơn các phân tử thuốc ở dạng hòa tan thường ngày, nên các hệ mang thuốc nano trực tính qua cơ chế nhập bào (endocytosis) thay vì cơ chế khuếch tán thông thường. Tuy nhiên, quá trình nhập bào thường theo cơ chế sinh vật học bình thường được điều khiển bởi các receptor và phức hợp đặc hiệu giữa chúng. Chính thành ra, nhờ việc gắn lên trên bề mặt của các hệ nano mang thuốc các hoạt chất sinh học có khả năng gắn đặc hiệu với các receptor trên bề mặt tế bào, các nhà khoa học có thể cải thiện đáng kể khả năng đi vào (nhập bào) và đi ra (thải bào) của các hệ nano, nhờ đó có thể mang thuốc đi qua các hàng rào sinh vật học cũng như xâm nhập vào các tế bào tại vị trí mong muốn. Có thể kể đến một số kỹ thuật đang được nghiên cứu giờ như nhập bào điều hòa bởi receptor insulin, nhập bào điều hòa bởi receptor transferrin...

Nhờ đó, các hệ nano có thể mang thuốc thâm nhập qua các hàng rào sinh học của thân và phân bố đến các vị trí mong muốn, thậm chí có thể đi qua hàng rào máu não và đưa thuốc đến tâm thần trung ương. Một nghiên cứu vừa được ban bố trên tập san khoa học Nature Communication vào tháng 08/2019, tác giả Anna Galstyan và cộng sự đã chế tác thành công nano polymer có khả năng tải kháng thể đơn dòng (dùng trong liệu pháp miễn nhiễm) đi xuyên qua hàng rào máu não để hướng đến điều trị khối u trong não bộ. Nghiên cứu đã phần nào giải quyết khó khăn trong điều trị u não can hệ đến khả năng đi qua hàng rào máu não kém của các liệu pháp điều trị thông thường.

ThS. DS. Bùi Đức Trí

Rút một lá bài Tarot để khám phá chuyện tình cảm của bạn sẽ thăng hoa lãng mạn hay ảm đạm u sầu trong thời gian tới

Tình yêu là một điều không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi người. Thiếu tình yêu thì cũng giống như nấu một nồi soup mà không có gia vị. Hãy rút một lá bài Tarot để biết thời gian tới chuyện tình cảm của bạn sẽ lên xuống như thế nào nhé!

(thông báo chỉ mang tính chất tham khảo)

Tháng 11 là đỉnh dịch của sốt xuất huyết, làm sao để không mắc bệnh?

Theo diễn biến dịch tễ hàng năm, hiện đang là thời khắc ghi nhận số mắc cao tại nhiều tỉnh, thành phố, trong đó có cả bệnh nhân người lớn và con nít, ngành y tế đã và đang hăng hái triển khai đồng bộ nhiều biện pháp để kiểm soát dịch bệnh. Tuy nhiên, sự tham dự chủ động, hăng hái của chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể và đặc biệt là người dân trong diệt bọ gậy, loăng quăng, muỗi truyền là rất quan trọng.

Nhiều ca SXH biến chứng nặng

PGS.TS Đỗ Duy Cường – Giám đốc Trung tâm Bệnh Nhiệt đới, BV Bạch Mai cho hay, tình hình SXH năm nay tăng đột biến hơn so với năm ngoái, đặc biệt từ tháng 8 và tăng cao điểm vào tháng 10, tháng 11 do thời tiết đổi thay chuyển mùa và mưa nhiều thuận tiện cho muỗi phát triển.

Từ tháng 10 đến nay, số ca nặng phải nhập viện tại trọng điểm bệnh Nhiệt đới, BV Bạch Mai nhàng nhàng 10-20 ca/ngày và số ca khám điều trị ngoại trú từ 30-50 ca/ngày. Nhiều bệnh nhân phải nhập viện vì có biểu đạt nặng như xuất huyết nội tạng, sốc, có các bệnh nền kết hợp hoặc cơ địa đặc biệt như người già, nữ giới có thai. Tuy nhiên, chưa có trường hợp nào tử vong.

Cũng theo PGS. Cường, so với vụ dịch SXH năm 2017 ở Hà Nội (đỉnh điểm là tháng 8) thì năm nay SXH xảy ra muộn hơn, số lượng không nhiều bằng năm 2017. Tuy nhiên, SXH năm nay có một số điểm cần lưu ý, chẳng hạn dịch tụ hợp lúc đầu ở khu vực ngoại thành (như Hoài Đức, Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên…) sau đó lan sang các quận nội ô (như Cầu Giấy, Hoàng Mai, Nam Từ Liêm, Thanh Xuân, Đống Đa,…).

PGS.TS Đỗ Duy Cường.

"Đặc biệt, là dịch năm nay có một số bất thường như tỉ lệ người già mắc nhiều hơn, nhiều bệnh nhân có biểu đạt nặng như sốc, chảy máu nặng, thương tổn nội tạng như viêm não- màng não, viêm tủy, viêm cơ tim, thương tổn gan, thận, xảy thai hoặc thai lưu trên đàn bà có thai. Điều này đòi hỏi phải khôn cùng lưu ý trong thời kì tới khi tháng 11 được coi là cực điểm của vụ dịch và nhiều các bệnh nhân nặng biến chứng hay xảy ra"- chuyên gia về bệnh lây thông tin.

để ý các dấu hiệu điển hình

Hiện đang là thời điểm SXH bước vào chu kỳ đỉnh dịch, do đó, các thầy thuốc khuyến cáo khi người dân có triệu chứng sốt cao đột ngột cần nghĩ đến bệnh này để điều trị kịp thời. SXH không loại trừ một ai, triệu chứng của SXH là sốt cao đột ngột, liên tiếp, đau đầu, đau mỏi người, mỏi mệt, chán ăn...

thời đoạn sốt kéo dài từ 3-7 ngày. Từ ngày thứ 4 trở đi có thể xuất hiện các biến chứng nặng như xuất huyết dưới da, chảy máu cam, chảy máu chân răng, rong kinh, rong huyết (phụ nữ). Một số trường hợp thoát huyết tương dẫn đến cô đặc máu và có thể dẫn tới sốc giảm thể tích, hoặc có thể suy các cơ quan nội tạng như suy gan thận, viêm cơ tim, viêm não- màng não,…

PGS. Cường tham mưu, c ách xử trí trong những ngày đầu chỉ điều trị triệu chứng bằng cách chườm mát, uống thuốc hạ sốt (paracetamol 500mg ở người lớn cứ 4 tiếng uống 1 viên nếu sốt trên 38,5 độ), bù dịch bằng đường uống (orerol, nước hoa quả, nước canh,…). Chỉ truyền dịch (muối đằng trương hoặc Ringer lactate) khi bệnh nhân không ăn uống được và phải được theo dõi tại các cơ sở y tế chuyên khoa.



Đậy kín tuốt luốt các phương tiện chứa nước để muỗi không vào đẻ trứng

Đây là biện pháp phòng bệnh SXH cho bản thân, gia đình và mọi người xung quanh được ngành y tế liên tục khuyến cáo. Theo BS. Phạm Hùng - Trưởng phòng Kiểm soát bệnh lây, Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế), hàng tuần cần thực hành các biện pháp diệt lăng quăng/bọ gậy bằng cách thả cá vào công cụ chứa nước lớn; thau rửa công cụ chứa nước vừa và nhỏ, lật úp các công cụ không chứa nước; thay nước bình hoa/bình bông; bỏ muối hoặc dầu hoặc hóa chất diệt ấu trùng vào bát nước kê chân chạn. Hàng tuần loại bỏ các nguyên liệu phế thải, các hốc nước thiên nhiên không cho muỗi đẻ trứng như chai, lọ, mảnh chai, vỏ dừa, mảnh lu vỡ, lốp/vỏ xe cũ, hốc tre, bẹ lá...

Nên ngủ màn, mặc xống áo dài phòng muỗi đốt ngay cả ban ngày. hăng hái phối hợp với ngành y tế trong các đợt phun hóa chất phòng, chống dịch. Khi bị sốt đến ngay cơ sở y tế để được khám và tư vấn điều trị. Không tự tiện điều trị tại nhà.

PGS.TS Đỗ Duy Cường cũng nhấn mạnh, SXH do vi rút Dengue lây truyền bởi muỗi Aedes aegypti, là một loại muỗi vằn sống ở thị thành đốt truyền vi rút từ người bệnh sang người lành. bây chừ chưa có vắc xin phòng bệnh. vì thế các biện pháp phòng bệnh hiện thời là không đặc hiệu bao gồm nằm màn, mặc áo xống tránh muỗi đốt, bôi kem chống sâu bọ cắn, phun thuốc diệt muỗi, cải tạo môi trường, tiêu diệt lăng quăng bọ gậy, hạn chế nơi đẻ trứng của muỗi ở những vật đựng nước ở trong nhà hay quanh nhà.

Nếu có biểu lộ sốt đột ngột, đau đầu, đau mỏi người, mệt nhiều thì cần đến các cơ sở y tế gần nhất để xét nghiệm máu xem có bị SXH hay không. Đây là một xét nghiệm đơn giản, nhanh phát hiện sớm SXH để bác sĩ có thể chẩn đoán và xử trí kịp thời.

Chưa có sự biến đổi về các chủng vi rút lưu hành gây bệnh SXH tại Việt Nam

Năm 2019, tình hình SXH diễn biến phức tạp và gia tăng tại rất nhiều nhà nước, trong đó tất các nước trong khu vực Đông Nam Á đều ghi nhận số mắc, tử vong gia tăng. Trong 9 tháng đầu năm 2019: Philippines ghi nhận 322.693 trường hợp mắc, 1.272 trường hợp tử vong, số mắc tăng 2,2 lần, tử vong tăng 498 trường hợp so với cùng kỳ 2018.

Malaysia ghi nhận 102.734 trường hợp mắc, 149 trường hợp tử vong, số mắc tăng 1,8 lần, tử vong tăng 51 trường hợp so với cùng kỳ 2018.

Ngoài ra Lào (30.000/59), Singapore, Campuchia, Trung Quốc... ghi nhận số mắc hàng tuần liên tiếp tăng cao so với cùng kỳ 2017, 2018 và dự báo thời gian tới tình hình dịch bệnh còn diễn biến phức tạp với số mắc hàng tuần ghi nhận vẫn ở mức cao.

Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á là khu vực chịu ảnh hưởng lớn từ SXH năm 2019. Bệnh lưu hành ở cả 63 thị thành phố trên cả nước. Do đang trong cao điểm mùa dịch nên số mắc hàng tuần bây giờ vẫn ở mức cao. tuy thế tình hình dịch bệnh trong khoảng 8 tuần gần đây có thiên hướng chững lại nhưng chưa giảm rõ rệt do đặc điểm dịch tễ hàng năm mùa dịch cao điểm từ tháng 9 đến tháng 11. Hiện chưa có sự biến đổi về các chủng vi rút lưu hành gây bệnh SXH tại Việt Nam so với các năm trước, trong 4 tuýp vi rút lưu hành ở Việt Nam, týp D1, D2 là phổ biến hơn (trên 80%). Tỷ lệ tử vong thấp hơn các năm trước, thấp hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực.

Dương Hải

Phân biệt men vi sinh và men tiêu hóa thế nào?

Qua tìm hiểu, tôi được biết men tiêu hóa có 2 loại là men vi sinh và men tiêu hóa, đồng thời tôi cũng chưa biết phân biệt 2 loại này. Mong bác sĩ cho lời khuyên để tôi cho con dùng thuốc hợp.

Nguyễn Minh Hà (Hà Nội)

Các chế phẩm hỗ trợ tiêu hóa được gọi chung bằng một từ là men tiêu hóa, bản chất được chia thành 2 loại là men tiêu hóa và men vi sinh, có công dụng, đối tượng sử dụng khác nhau.

Men vi sinh còn gọi là probiotic (một số loại probiotic phổ biến như: khuẩn bifidobacterium, khuẩn lactobacillus) - là chế phẩm vi sinh chứa các loại vi khuẩn có lợi, được đưa vào ruột để bù đắp, lập lại sự cân bằng vi khuẩn đường ruột. Việc bổ sung men vi sinh nhằm nâng cao sức đề kháng cho đường ruột, tăng cường chức năng tiêu hóa. Men vi sinh được chỉ định với các trường hợp loạn khuẩn ruột, tả ở chứng đại tiện phân sống, đi tả, khó tiêu, trướng bụng, rối loạn tiêu hóa.

Men tiêu hóa là các loại men (enzym) do chính các tuyến trong thân thể tiết ra, có tác dụng để tiêu hóa và tiếp thụ thức ăn, tỉ dụ tuyến nước miếng bài xuất men ptyalin (còn gọi anpha - amylase) có tác dụng phân giải tinh bột đã nấu chín thành đường maltoza. bao tử bài tiết ra axit clohydric (HCl) và các men pepsin, lipase. Quan trọng nhất là các men được bài xuất từ tụy tạng. Dịch tụy chứa đầy đủ các men tiêu hóa chất bột, chất đạm, chất béo. Men tiêu hóa chỉ được bác sĩ kê đơn khi xác định trẻ thiếu men tiêu hóa, hoặc muốn tăng cường khả năng tiêu hóa để giúp cơ thể bình phục nhanh ở trẻ kém hấp thu, biếng ăn, trẻ mới ốm dậy, thể lực yếu...

Việc nhầm lẫn giữa 2 loại thuốc tương trợ tiêu hóa trên hoặc cho trẻ dùng tùy tiện mà không biết mình đang cho con dùng loại gì, chỉ biết gọi chung là men tiêu hóa sẽ khiến tình trạng tiêu hóa của trẻ không được cải thiện, thậm chí ngày một tệ lậu hơn. Vì vậy, chị nên đưa con đi khám chuyên khoa tiêu hóa hoặc dinh dưỡng để được tư vấn dùng thuốc cụ thể; tuyệt đối không cho con dùng thuốc theo mách bảo sẽ không thích hợp với cơ thể của trẻ nên dễ nảy sinh những bất lợi khó lường.

DS. Phương Trang

Chọn hình ảnh đầu tiên bạn nhìn thấy trong bức tranh sẽ giúp bạn nhận biết tình hình cuộc sống hiện tại của mình

thỉnh thoảng, bạn khó có thể nhận ra cuộc sống của mình đang tồn tại điều gì. Hình ảnh mà bạn nhìn thấy đầu tiên trong bức tranh sau sẽ tiết lộ cho bạn biết tình trạng cuộc sống của bạn trong thời điểm hiện tại.

(Thông tin chỉ mang tính chất tham khảo)

Tháng 11 là đỉnh dịch của sốt xuất huyết, làm sao để không mắc bệnh?

Theo diễn biến dịch tễ hàng năm, hiện đang là thời khắc ghi nhận số mắc cao tại nhiều tỉnh, tỉnh thành, trong đó có cả bệnh nhân người lớn và con trẻ, ngành y tế đã và đang hăng hái triển khai đồng bộ nhiều biện pháp để kiểm soát dịch bệnh. Tuy nhiên, sự tham gia chủ động, tích cực của chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể và đặc biệt là người dân trong diệt bọ gậy, loăng quăng, muỗi truyền là rất quan yếu.

Nhiều ca SXH biến chứng nặng

PGS.TS Đỗ Duy Cường – Giám đốc Trung tâm Bệnh Nhiệt đới, BV Bạch Mai cho hay, tình hình SXH năm nay tăng đột biến hơn so với năm ngoái, đặc biệt từ tháng 8 và tăng cao điểm vào tháng 10, tháng 11 do thời tiết đổi thay chuyển mùa và mưa nhiều tiện lợi cho muỗi phát triển.

Từ tháng 10 đến nay, số ca nặng phải nhập viện tại trọng điểm bệnh Nhiệt đới, BV Bạch Mai làng nhàng 10-20 ca/ngày và số ca khám điều trị ngoại trú từ 30-50 ca/ngày. Nhiều bệnh nhân phải nhập viện vì có mô tả nặng như xuất huyết nội tạng, sốc, có các bệnh nền phối hợp hoặc cơ địa đặc biệt như người già, phụ nữ có thai. Tuy nhiên, chưa có trường hợp nào tử vong.

Cũng theo PGS. Cường, so với vụ dịch SXH năm 2017 ở Hà Nội (cực điểm là tháng 8) thì năm nay SXH xảy ra muộn hơn, số lượng không nhiều bằng năm 2017. Tuy nhiên, SXH năm nay có một số điểm cần lưu ý, chẳng hạn dịch hội tụ lúc đầu ở khu vực ngoại thành (như Hoài Đức, Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên…) sau đó lan sang các quận nội thành (như Cầu Giấy, Hoàng Mai, Nam Từ Liêm, Thanh Xuân, Đống Đa,…).

PGS.TS Đỗ Duy Cường.

"Đặc biệt, là dịch năm nay có một số bất thường như tỉ lệ người già mắc nhiều hơn, nhiều bệnh nhân có miêu tả nặng như sốc, chảy máu nặng, tổn thương nội tạng như viêm não- màng não, viêm tủy, viêm cơ tim, tổn thương gan, thận, xảy thai hoặc thai lưu trên đàn bà có thai. Điều này đòi hỏi phải khôn cùng lưu ý trong thời kì tới khi tháng 11 được coi là cực điểm của vụ dịch và nhiều các bệnh nhân nặng biến chứng hay xảy ra"- chuyên gia về bệnh lây nhiễm thông báo.

Chú ý các dấu hiệu điển hình

Hiện đang là thời khắc SXH bước vào chu kỳ đỉnh dịch, do đó, các thầy thuốc khuyến cáo khi người dân có triệu chứng sốt cao đột ngột cần nghĩ đến bệnh này để điều trị kịp thời. SXH không loại trừ một ai, triệu chứng của SXH là sốt cao đột ngột, liên tục, đau đầu, đau mỏi người, mệt mỏi, chán ăn...

thời đoạn sốt kéo dài từ 3-7 ngày. Từ ngày thứ 4 trở đi có thể xuất hiện các biến chứng nặng như xuất huyết dưới da, chảy máu cam, chảy máu chân răng, rong kinh, rong huyết (phụ nữ). Một số trường hợp thoát huyết tương dẫn đến cô đặc máu và có thể dẫn tới sốc giảm thể tích, hoặc có thể suy các cơ quan nội tạng như suy gan thận, viêm cơ tim, viêm não- màng não,…

PGS. Cường tư vấn, c ách xử trí trong những ngày đầu chỉ điều trị triệu chứng bằng cách chườm mát, uống thuốc hạ sốt (paracetamol 500mg ở người lớn cứ 4 tiếng uống 1 viên nếu sốt trên 38,5 độ), bù dịch bằng đường uống (orerol, nước hoa quả, nước canh,…). Chỉ truyền dịch (muối đằng trương hoặc Ringer lactate) khi bệnh nhân không ăn uống được và phải được theo dõi tại các cơ sở y tế chuyên khoa.



Đậy kín tất các phương tiện chứa nước để muỗi không vào đẻ trứng

Đây là biện pháp phòng bệnh SXH cho bản thân, gia đình và mọi người xung quanh được ngành y tế liên tiếp khuyến cáo. Theo BS. Phạm Hùng - Trưởng phòng Kiểm soát bệnh lây nhiễm, Cục Y tế phòng ngừa (Bộ Y tế), hàng tuần cần thực hiện các biện pháp diệt lăng quăng/bọ gậy bằng cách thả cá vào dụng cụ chứa nước lớn; thau rửa phương tiện chứa nước vừa và nhỏ, lật úp các phương tiện không chứa nước; thay nước bình hoa/bình bông; bỏ muối hoặc dầu hoặc hóa chất diệt ấu trùng vào bát nước kê chân chạn. Hàng tuần loại bỏ các nguyên liệu phế thải, các hốc nước thiên nhiên không cho muỗi đẻ trứng như chai, lọ, mảnh chai, vỏ dừa, mảnh lu vỡ, lốp/vỏ xe cũ, hốc tre, bẹ lá...

Nên ngủ màn, mặc áo quần dài phòng muỗi đốt ngay cả ban ngày. tích cực phối hợp với ngành y tế trong các đợt phun hóa chất phòng, chống dịch. Khi bị sốt đến ngay cơ sở y tế để được khám và tham mưu điều trị. Không tự tiện điều trị tại nhà.

PGS.TS Đỗ Duy Cường cũng nhấn mạnh, SXH do vi rút Dengue truyền nhiễm bởi muỗi Aedes aegypti, là một loại muỗi vằn sống ở thị thành đốt truyền vi rút từ người bệnh sang người lành. hiện thời chưa có vắc xin phòng bệnh. cho nên các biện pháp phòng bệnh hiện giờ là không đặc hiệu bao gồm nằm màn, mặc quần áo tránh muỗi đốt, bôi kem chống sâu bọ cắn, phun thuốc diệt muỗi, cải tạo môi trường, xoá sổ lăng quăng bọ gậy, hạn chế nơi đẻ trứng của muỗi ở những vật đựng nước ở trong nhà hay quanh nhà.

Nếu có bộc lộ sốt đột ngột, đau đầu, đau mỏi người, mệt nhiều thì cần đến các cơ sở y tế gần nhất để xét nghiệm máu xem có bị SXH hay không. Đây là một xét nghiệm đơn giản, nhanh phát hiện sớm SXH để thầy thuốc có thể chẩn đoán và xử trí kịp thời.

Chưa có sự biến đổi về các chủng vi rút lưu hành gây bệnh SXH tại Việt Nam

Năm 2019, tình hình SXH diễn biến phức tạp và gia tăng tại rất nhiều nhà nước, trong đó cả thảy các nước trong khu vực Đông Nam Á đều ghi nhận số mắc, tử vong gia tăng. Trong 9 tháng đầu năm 2019: Philippines ghi nhận 322.693 trường hợp mắc, 1.272 trường hợp tử vong, số mắc tăng 2,2 lần, tử vong tăng 498 trường hợp so với cùng kỳ 2018.

Malaysia ghi nhận 102.734 trường hợp mắc, 149 trường hợp tử vong, số mắc tăng 1,8 lần, tử vong tăng 51 trường hợp so với cùng kỳ 2018.

ngoại giả Lào (30.000/59), Singapore, Campuchia, Trung Quốc... ghi nhận số mắc hàng tuần liên tiếp tăng cao so với cùng kỳ 2017, 2018 và dự báo thời gian tới tình hình dịch bệnh còn diễn biến phức tạp với số mắc hàng tuần ghi nhận vẫn ở mức cao.

Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á là khu vực chịu ảnh hưởng lớn từ SXH năm 2019. Bệnh lưu hành ở cả 63 thị thành phố trên cả nước. Do đang trong cao điểm mùa dịch nên số mắc hàng tuần bây chừ vẫn ở mức cao. tuy thế tình hình dịch bệnh trong khoảng 8 tuần gần đây có thiên hướng chững lại nhưng chưa giảm rõ rệt do đặc điểm dịch tễ hàng năm mùa dịch cao điểm từ tháng 9 đến tháng 11. Hiện chưa có sự biến đổi về các chủng vi rút lưu hành gây bệnh SXH tại Việt Nam so với các năm trước, trong 4 tuýp vi rút lưu hành ở Việt Nam, týp D1, D2 là phổ biến hơn (trên 80%). Tỷ lệ tử vong thấp hơn các năm trước, thấp hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực.

Dương Hải

Bệnh bạch biến có chữa khỏi không?

Bệnh biểu lộ bởi những dát, mảng giảm sắc tố so với vùng da xung quanh, không ngứa, không đóng vảy, giới hạn rõ. Đây là bệnh lành tính, không lây, và có ảnh hưởng nhiều về mặt thẩm mỹ.

duyên cớ bệnh bạch biến

duyên cớ gây bệnh bạch biến còn chưa được biết rõ. Chỉ có một điều chắc chắn rằng bạch biến xuất hiện là do sự giảm số lượng và chất lượng của các tế bào sắc tố da ở vùng da bị bệnh. một đôi giả thuyết cho rằng bệnh bạch biến có thể do ảnh hưởng của bệnh tự miễn hoặc có thể do di truyền, can hệ đột biến ở gen DR4, B13 hoặc BW35 của HLA. Các tự kháng thể xem các tế bào sắc tố như là các kháng nguyên và chống lại chúng, phá hủy tế bào sắc tố và làm giảm sản xuất sắc tố melanin. Khoảng 20-30% bệnh nhân bạch biến có tự kháng thể chống lại tế bào của tuyến giáp, tuyến thượng thận, tuyến sinh dục, gan tụy nên một số bệnh nhân bạch biến có các bệnh lý kèm theo liên can đến các cơ quan kể trên.

Triệu chứng của bệnh bạch biến.

Triệu chứng của bệnh bạch biến.

Triệu chứng bệnh bạch biến

trình bày chính của bệnh bạch biến là những dát, mảng trắng, giới hạn rõ, mất sắc tố da so với những vùng da xung quanh do các tế bào sắc tố da ở đó đã không còn hoặc đã ngưng hoạt động. Vị trí thường xuất hiện của các mảng bạch biến là những vùng hở, phơi nhiễm với ánh sáng ác vàng như tay, chân, mặt, môi.

Da trên đám bạch biến vẫn thường nhật, không bị teo, không đóng vảy, cảm giác trên da không biến đổi, không đau ngứa, không tê dại. Lông trên đám bạch biến cũng bị trắng.

Phụ thuộc vào thể bệnh bạch biến, các mảng da bị đổi màu có thể xuất hiện theo cách khác nhau:

Thể bạch biến toàn thân: đây là thể bệnh phổ thông nhất. Các mảng bạch biến thường xuất hiện ở nhiều vùng trên thân thể và có tính chất đối xứng.

Thể bạch biến phân đoạn: thường bộc lộ chỉ một bên hoặc một vùng trên cơ thể. Thể này có thiên hướng xuất hiện ở những bệnh nhân trẻ tuổi hơn, chỉ tiến triển trong vòng 1 đến 2 năm.

Thể bạch biến khu trú: chỉ xảy ra ở một đôi vị trí trên thân thể.

Rất khó để dự đoán được tiến triển của bệnh. Đôi khi các mảng bạch biến sẽ tự khu trú mà không cần điều trị. Trong hồ hết các trường hợp, các mảng da mất sắc tố sẽ lan rộng ra. Bệnh tiến triển mãn tính, có những đợt nặng lên, tổn thương thường nặng lên vào mùa hè, giảm đi vào mùa đông.

Bệnh nhân càng trẻ, tiên đoán càng tốt, có nhiều hy vọng khỏi bệnh hơn và trái lại.

Đây là bệnh ngoài da hoàn toàn không lây cho những người xung quanh, bao gồm cả những người tiếp xúc gần gũi với người bệnh.

Bệnh có chữa được không?

Bệnh bạch biến vẫn chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu. Hiện việc điều trị còn nhiều khó khăn, chỉ mới dừng lại ở việc giải quyết triệu chứng.

Thuốc: Nhóm thuốc có tác dụng tăng cảm ứng với ánh sáng toàn thân hoặc tại chỗ như chế phẩm có psoralen như meladinin, melagenin phối hợp với việc chiếu tia cực tím bước sóng ngắn hoặc dài tại vùng tổn thương. Các tác dụng phụ bao gồm chán ăn, tăng men gan, vàng da. Thuốc được bôi tại chỗ có thể làm cho đám bạch biến bị đỏ rát phỏng nước nên có thể dùng phối hợp với các thuốc chống viêm, chống dị ứng, ức chế miễn nhiễm. Thuốc được chỉ định ở những bệnh nhân hậu 12 tuổi trở lên.

Corticosteroid là thuốc bôi được chọn lựa để phối hợp với các liệu pháp trị liệu khác như laser CO 2 , UVB phổ hẹp, dẫn xuất vitamin D 3 ... đem lại hiệu quả điều trị tốt hơn, nhất là những trường hợp bạch biến khu trú. Tuy nhiên, vì tác dụng phụ mà thuốc bị hạn chế sử dụng cho bệnh bạch biến ở con trẻ và không nên dùng kéo dài trên 2 tháng.

Thuốc uống chống nắng: ở bệnh nhân bạch biến, chất lượng cũng như số lượng của tế bào sắc tố sút giảm nên khả năng bảo vệ thân trứ tác hại của ánh sáng ác gây ra sự sụt giảm khả năng bảo vệ thân thể dưới tác động của ánh sáng ác. Ngoài việc sử dụng các thuốc chống nắng dạng bôi ngoài da, người bệnh nên kết hợp cả dạng thuốc uống chống nắng để tránh sự cháy nắng ở những vùng da giảm sắc tố.

tham vấn tâm lý: Bệnh bạch biến gây ra nhiều tác động lên tâm lý người bệnh, gây sút giảm chất lượng cuộc sống. Một số vấn đề người bệnh phải đối mặt bao gồm thất thường về tâm lý, khó khăn về dục tình, băn khoăn, lo âu và kết hợp các vấn đề trên. Do đó, việc Tư vấn tâm lý trong điều trị bạch biến là khôn cùng quan trọng, cần nhấn mạnh để người bệnh hiểu rõ bệnh chỉ ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ chứ ít hiểm nguy đến tính mạng.

Cấy tế bào sắc tố da: Đây là phương pháp mới trong điều trị bệnh bạch biến nhưng đòi hỏi tổn phí và kỹ thuật cao nên không được ứng dụng rộng rãi.

Tóm lại, bạch biến là một bệnh lý ngoài da lành tính, có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Việc điều trị bệnh là một quá trình lâu dài cần sự phối hợp bền chí giữa bệnh nhân và thầy thuốc. Người bệnh cần giữ vững tâm lý, tránh bi quan lo lắng làm bệnh diễn tiến nặng hơn.

BS. Minh Nguyệt