Thứ Hai, 25 tháng 11, 2019

Những sai lầm của nhiều bà mẹ hay mắc phải khi cho trẻ ăn

Không phải bà mẹ nào cũng có đầy đủ kiến thức và hiểu biết để nuôi con một cách khoa học, giúp bé phát triển tối đa về cả thể chất và tinh thần. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, trong quá trình nuôi con, rất nhiều bà mẹ lúng túng, thậm chí nhiều bậc bác mẹ mắc phải không ít sai lầm khi nuôi con nhỏ. Đây chính là nguyên do khiến cho nhiều trẻ thấp còi, suy dinh dưỡng hoặc béo phì.

Các chuyên gia dinh dưỡng khẳng định, chế độ ăn uống sai lệch dù thiếu hay thừa đều dẫn đến hậu quả như: Suy dinh dưỡng, béo phì. Nếu cho bé ăn quá nhiều thịt, cá, trứng, sữa…. lâu dần sẽ khiến thân bé thừa protein dẫn đến béo phì hoặc nhiều bệnh khác.

sai trái khi cho trẻ ăn dẫn đến trẻ thấp còi hoặc béo phì

Theo các chuyên gia sự lo âu thái quá đôi khi khiến các ông bố bà mẹ dễ mắc sai lầm khi coi sóc dinh dưỡng cho trẻ. Và nghiêm trọng nếu các bậc phụ huynh không nhận thức rõ những sai lầm của mình, từ đó khiến tình trạng biếng ăn ở trẻ càng trở thành nghiêm trọng hơn.

san sớt tại buổi tư vấn truyền hình trực tuyến với chủ đề " Những sai trái hay mắc phải khi cho trẻ ăn” trên Suckhoedoisong.vn, PGS.TS Lê Bạch Mai – Nguyên Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng nhà nước cho biết, khẩu phần ăn sẽ ảnh hưởng dinh dưỡng cho bé, chính do vậy, phụ huynh cần hiểu con mình cần gì, nhu cầu thay đổi theo giới, theo tuổi, theo từng bé. Những sai trái mà một số bác mẹ mắc phải thì rất nhiều, ví dụ như em bé 6 tháng tuổi, theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trẻ nên bắt đầu ăn dặm, vì lúc này hệ tiêu hóa của trẻ đã phát triển khá hoàn chỉnh nên có thể hấp thu những thức ăn phức tạp hơn so với sữa mẹ, trẻ thật sự cần những thức ăn bổ sung để cơ thể phát triển khỏe mạnh vì nguồn sữa mẹ sau 6 tháng đã không đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày của trẻ nữa. Tuy nhiên nhiều ba má cho rằng cho trẻ ăn dặm sớm giúp trẻ cứng cáp hơn- đây là một sai trái hoàn toàn, thậm chí có bà mẹ còn cho trẻ ăn liền 3 bữa bột/ ngày.

PGS.TS Lê Bạch Mai – Nguyên Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia

Theo PGS Mai, ở tuổi 6 tháng tuổi khi trẻ mới ăn dặm nên cho trẻ ăn từ từ, ít một rồi tăng dần lên 200ml mỗi bữa, tập cho trẻ quen dần với thức ăn mới. Mỗi lần chỉ cho một loại thức ăn mới. Loại thức ăn nào khi bắt đầu cho bé ăn cũng cho ăn ít một sau đó ăn tăng dần. Không nên bắt ép trẻ ăn đủ số lượng nhiều từ ban đầu và không nên lo âu khi trẻ chưa chịu ăn. Và từ 7-8,9 tháng tuổi bé mới cần 2 bữa bột cho đến 9 tháng trở lên mới cần ăn 3 bữa bột / ngày.

Đồng ý kiến trên, PGS. TS. Nguyễn Thị Việt Hà - Trưởng khoa tiêu hóa Bệnh viện Nhi Trung Ương cũng cho biết, với trẻ từ 4-6 tháng tuổi là bắt đầu mọc răng nên khi cho bé ăn dặm quá sớm điều này không tốt cho hệ tiêu hóa của trẻ, bởi như vậy sẽ làm tăng nguy cơ ăn không tiêu, ỉa phân sống và một số bệnh lý can hệ đến rối loạn tiêu hóa. Nếu cho trẻ ăn dặm quá muộn cũng không tốt , vì lúc này đường tiêu hóa bắt đầu đổi thay bắt đầu xuất hiện răng cửa, các răng mọc dần lên. Sau 6 tháng các enzym trên đường tiêu hóa tiết ra các chất tiêu hóa tiết nhiều hơn để tiêu hóa được protein có thuộc tính thô hơn nếu cha mẹ không cho trẻ ăn dặm, sẽ ảnh hưởng đến vị giác của trẻ. ngoại giả, hệ tiêu hóa con nít không như người lớn, khi bé ăn dặm các thức ăn bổ sung sẽ giúp cho sự phát triển của hệ vi sinh đường ruột đổi thay, kích thích hệ miễn nhiễm trên đường ruột của bé sẽ tốt hơn.

PGS.TS Nguyễn Thị Việt Hà - Trưởng khoa tiêu hóa Bệnh viện Nhi Trung Ương .

Cũng theo BS Hà, nếu ba má ép trẻ ăn trong khi bé không có nhu cầu, trẻ sẽ bị ảnh hưởng đến tiêu hóa và tâm lý. Tệ hơn nữa, khi bé không chịu ăn thì đánh mắng hoặc bóp miệng bé để đút cho bé ăn. Điều này là khôn cùng tại hại , bởi trẻ phải ăn trong tâm lý sợ hãi, bao tay gây ức chế tâm thần cho trẻ dẫn đến dịch vị của trẻ không tiết ra để kích thích tiêu hóa và ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý của trẻ. Do đó cần cho bé ăn dặm đúng độ tuổi nếu cho bé ăn dặm sớm hay muộn đều không tốt ảnh hưởng đến hệ miễn nhiễm, tầm vóc và thể trạng của bé.

1000 ngày "vàng" quyết định đến chiều cao, bệnh tật và bộ não của trẻ

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), 1000 ngày đầu đời được tính từ thời gian mẹ mang bầu cho tới khi bé được 2 tuổi. Đây được xem là tuổi vàng trong phát triển của trẻ cả về chiều cao lẫn cân nặng. Trẻ có cân nặng gấp đôi cân nặng sơ sinh trong 4-5 tháng đầu và gấp 3 lần cân nặng lọt lòng vào cuối năm thứ nhất. Khi bé tròn 1 tuổi, chiều cao của trẻ tăng gấp rưỡi so với khi sinh.

Trong năm đầu tiên, trẻ có thể tăng 25cm và tăng thêm 10cm mỗi năm trong 2 năm tiếp theo (đến khi trẻ 3 tuổi) nếu được bổ sung dinh dưỡng đúng và đủ. Các nhà khoa học nhận định, thời đoạn này quyết định đến 60% khả năng tăng trưởng chiều cao của trẻ trong mai sau.

Theo PGS. TS. Bạch Mai, việc để ý vào dinh dưỡng cho bé trong thời điểm vàng sẽ giúp không chỉ tăng trưởng về chiều cao, cân nặng, nuôi dưỡng đúng cách trong thời đoạn 1000 ngày đầu đời còn giúp trẻ có hệ miễn nhiễm tốt, trí não phát triển… tạo bước đệm cho mai sau. Ngược lại, nếu trong giai đoạn vàng trẻ không được chăm chút đúng cách sẽ dễ bị thấp còi, suy dinh dưỡng, ảnh hưởng đến chiều cao khi trưởng thành và bỏ lỡ thời cơ phát triển tối đa cả về thể chất lẫn trí óc.

1000 ngày vàng đầu đời được chia thành các giai đoạn như sau: 270 ngày mẹ mang thai + 365 ngày nuôi con năm trước nhất + 365 ngày nuôi con năm thứ 2. thành ra, việc xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý, tạo đà phát triển tốt nhất cho con cần được các bà mẹ chú ý, BS Mai khuyến cáo.

Dinh dưỡng đúng cho trẻ sẽ giúp bé phát triển tốt về chiều cao và trí tuệ, sức khỏe.

Chế độ dinh dưỡng cho mẹ bầu cần đảm bảo đa dạng các nhóm chất (chất đạm, tinh bột, chất béo, vitamin và khoáng chất). Cần chú ý khẩu phần ăn giàu canxi (từ tôm, cua, cá, đậu phụ, rau xanh lá, nước cam, sữa và chế phẩm từ sữa...), giàu sắt (thịt lợn, bò, gà, trứng, rau xanh đậm...), trái cây theo mùa, hạn chế ăn quá nhiều đồ ngọt hay nước uống có gas có thể gây tiểu đường thai kỳ. Đặc biệt, mẹ bầu cần bổ sung vitamin D,sắt, Axit folic, DHA,... giúp phát triển hệ xương khỏe mạnh, tăng chiều dài thân thể.

Theo BS Mai, trẻ từ khi sinh ra nên được bú sớm và bú sữa mẹ hoàn toàn. Tổ chức Y tế thế giới cũng đã khuyến cáo, mẹ nên cho bé bú trong 6 tháng đầu đời và có thể kéo dài cho đến khi bé 2 tuổi. Từ 6 tháng trở đi, bố mẹ nên tập cho trẻ làm quen với các thức ăn khác ngoài sữa. Lưu ý, nên cân đối các thành phần dinh dưỡng trong bữa ăn của bé, nhớ cho bé ăn đa dạng ( khoảng gần 20 thực phẩm khác nhau) ; đủ 5 trong 8 nhóm thực phẩm( chất béo ép từ 40-50%)...

bây chừ, tỉ lệ suy dinh dưỡng vẫn còn cao, theo thống kê cứ 4 trẻ thì có 1 trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi. Một nghiên cứu cho thấy, suy dinh dưỡng thấp còi ảnh hưởng rất lớn đến tầm vóc, tỉ dụ 1 trẻ không bị suy dinh dưỡng thấp còi lúc 3 tuổi thì có thể cao tới 1,71m nếu suy dinh dưỡng thì lúc trưởng thành chỉ cao 1,58m. Và nhiều nghiên cứu cho thấy suy dinh dưỡng là một trong nhiều nguồn bệnh có thể mắc khi trưởng thành. thí dụ như, béo phì, đái tháo đường, tim mạch, thậm chí cả ung thư. thành thử có thể nói suy dinh dưỡng thấp còi ảnh hưởng rất nhiều đến trí óc, thể lực, sức khỏe hôm nay mà đến tận trưởng thành... do đó theo PGS.TS Lê Bạch Mai dinh dưỡng 1000 ngày đầu đời của bé là rất quan yếu.

Khánh Mai

Hen phế quản dễ tái phát khi trời lạnh

nguyên tố làm khởi phát cơn hen

Người ta còn nhận thấy viêm đường hô hấp do vi sinh vật (như viêm mũi họng, VA, viêm phế quản, tiểu phế quản), một số thức ăn (như tôm cua, ốc...), lông của một số động vật nuôi trong nhà (như chó, mèo...) làm cho trẻ có tiền sử bị hen phế quản tái phát.

Một số sâu bọ, tiết túc, đặc biệt là mạt gà, một số dược phẩm hoặc thỉnh thoảng gắng công (khóc, chạy nhảy nhiều, đùa nghịch quá mức...) cũng là một trong các nguy cơ cao làm cho trẻ có tiền sử bị hen phế quản tái phát.

Ô nhiễm môi trường sống, khói, bụi bẩn cũng là một trong những vấn đề cần quan hoài. Khói thuốc lá, thuốc lào do người lớn phả ra một cách thẳng thớm, khói bếp do đun rơm rạ, củi, rác, nhất là khói và khí của bếp than đá (than tổ ong); bụi nhiều nhất là các vùng thị thành mà điều kiện vệ sinh môi trường, vệ sinh tình cảnh, vệ sinh công nghiệp chưa tốt là những yếu tố nguy cơ cao làm cho trẻ xuất hiện cơn hen phế quản.

ngoại giả, nguyên tố di truyền cũng là một trong những nguyên do gây bệnh hen phế quản ở trẻ thơ. Nếu bố hoặc mẹ bị bệnh thì con của họ sinh ra có nguy cơ mắc hen là 30-50%. Nếu cả hai vợ chồng có bệnh hen thì tỷ lệ này ở con là 50-70%. Nếu bố mẹ không có ai bị hen, khả năng này ở con là 10-15%.

Tóm lại, nguyên tố làm phát khởi cơn hen bao gồm: Cảm cúm/nhiễm trùng đường hô hấp; gắng công (tập thể dục, nô giỡn, khóc, cảm xúc quá mức); Khói thuốc lá, khói than; Mạt bụi nhà; Phấn hoa; Nấm mốc; Vảy, da, lông súc vật; Chất phụ gia trong thực phẩm và các chất bảo quản thực phẩm; Một số loại dược, mỹ phẩm.

Khi thời tiết thay đổi, bệnh hen phế quản rất dễ tái phát.

Khi thời tiết đổi thay, bệnh hen phế quản rất dễ tái phát.

Cần phát hiện sớm

Đối với cơn hen phế quản nhẹ, thường xuất hiện khi gắng công (khóc, chạy nhảy quá mức...), biểu thị là cơn ho như: ho gà, nói được câu dài không bị gián đoạn. Nghe phổi thấy có tiếng ran rít vào cuối thì thở ra.

Đối với hen phế quản vừa thì cơn ho xuất hiện khi trẻ gắng công, tiếng nói đứt quãng, bắt đầu thấy dấu hiệu co kéo lồng ngực, hõm ức, hố thượng đòn. Nghe thấy ran rít khi thở ra.

Đối với hen phế quản nặng thì khó thở, ho khi ngơi nghỉ, cánh mũi phập phồng; trẻ nhỏ chẳng thể bú được; hiện tượng co kéo lồng ngực, mũi ức, hố thượng đòn rất rõ; nhìn môi của trẻ thấy tím tái. Nói hoặc khóc rất khó khăn (chỉ từng từ một). Nghe phổi có ran rít to cả khi trẻ thở ra và hít vào.

Đối với cơn hen phế quản rất nặng (ác tính) thì trẻ khó thở dữ dội, không thể khóc hoặc nói và lúc này nghe phổi không còn thấy ran. Cơn hen xảy ra liên tục trong nhiều ngày nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời.

Trong hen phế quản, nếu có kèm theo sốt thì rất có khả năng trẻ bị viêm đường hô hấp (có thể là hô hấp trên hoặc hô hấp dưới) do vi sinh vật (vi khuẩn, vi nấm hoặc virut).

Phương pháp phòng bệnh

Để phòng bệnh, cần mặc ấm cho trẻ về mùa lạnh, nhất là khi đi ra khỏi nhà. Chỉ nên tắm cho trẻ khi không có cơn hen (trẻ vẫn ăn, chơi thường ngày). Tắm ở buồng không có gió lùa, tắm nước ấm, cần tắm nhanh, tắm xong phải lau khô người cho trẻ ngay, lau bằng khăn khô và mặc ngay áo quần cho trẻ. Mùa lạnh, mỗi lần chuẩn bị tắm, rửa cho trẻ nên chuẩn bị một số dụng cụ như: áo xống sạch, lò sưởi, điều hòa nóng (nếu có điều kiện) để sau khi tắm, rửa xong là trẻ được xúc tiếp ngay với khí ấm, hạn chế lạnh đột ngột làm cho trẻ dễ bị cảm lạnh và nguy cơ xuất hiện cơn hen phế quản trên trẻ có sẵn tiền sử bị hen.

Đối với trẻ có tiền sử hen phế quản thì không cho trẻ ăn, uống các loại thức ăn có nguy cơ cao xuất hiện cơn hen như: tôm, cua, ốc. Bố, mẹ và người lớn không nên hút thuốc trong nhà. Nếu chưa có điều kiện dùng bếp điện, bếp gas thì nên cải tiến bếp đun củi, rơm, rạ bằng loại bếp ít khói. Không nên nuôi chó, mèo trong nhà. Cần ngừa có mạt gà chui trong chăn, gối, đệm bằng cách phơi nắng chăn, gối, đệm mỗi khi có điều kiện. Trong phòng ngủ của trẻ, không nên quét nhà bằng chổi mà nên lau bụi bằng khăn ướt, hút bụi bằng máy (nếu có thể).

ngoại giả, cần ăn nhiều thức ăn có chứa vitamin C, magnesium và những acid béo omega-3. Người ta nhận thấy việc thiếu vitamin C kết hợp với điều kiện không khí ô nhiễm làm gia tăng những trường hợp bệnh suyễn, đặc biệt là đối với trẻ mỏ.

Trẻ đã từng bị hen phế quản, đã được thầy thuốc tham vấn và điều trị cần nghe theo hướng dẫn của thầy thuốc, đặc biệt cần điều trị phòng hen theo chỉ dẫn của thầy thuốc chuyên khoa. do khi trẻ bị hen phế quản, ngoài việc điều trị cắt cơn hen còn có điều trị ngừa. Mặt khác, điều trị bệnh hen phế quản trẻ mỏ không giống như người lớn về thuốc, liều lượng, cách dùng...

BS. Nguyễn Văn Dũng