Thứ Năm, 5 tháng 12, 2019

Năm 2020: Người lao động phải đóng 170.000 đồng vào Quỹ phòng chống thiên tai

Khoản 2 Điều 5 Nghị định 94/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý và thành lập Quỹ Phòng, chống thiên tai nêu rõ, cán bộ, công chức, nhân viên trong các cơ quan tổ chức, lực lượng vũ trang hưởng lương, cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp Nhà nước đóng 1 ngày lương/người/năm theo mức lương căn bản.

Người cần lao trong các doanh nghiệp đóng 1 ngày lương/người/năm theo mức lương tối thiểu vùng.

Còn theo khoản 4 Điều 14 Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH, lương hướng ngày được trả cho 1 ngày làm việc xác định trên cơ sở lương lậu tháng chia cho số ngày làm việc bình thường trong tháng mà doanh nghiệp lựa chọn, nhưng tối đa không quá 26 ngày.

cứ quy chế làm việc của doanh nghiệp và mức lương tối thiểu vùng tại Nghị định 90/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ 1/1/2020, người cần lao có thân xác định được mức đóng Quỹ phòng, chống thiên tai năm 2020 của mình.

Cụ thể, với những doanh nghiệp ứng dụng số ngày làm việc bình thường 26 ngày/tháng thì số tiền đóng vào Quỹ phòng, chống thiên tai của người cần lao trong năm 2020 đối với vùng I ở mức cao nhất là 170.000 đồng/năm, vùng II là 150.769 đồng/năm, vùng III là 131.923 đồng/năm, vùng IV là 118.077 đồng/năm.

Ảnh minh họa.

Cũng theo Nghị định 94/2014/NĐ-CP, 8 trường hợp miễn đóng Quỹ gian thiên tai gồm:

Thương binh, bệnh binh và những người được hưởng chính sách như thương binh; Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng của liệt sĩ; bộ đội làm nghĩa vụ trong lực lượng vũ trang, hạ sĩ quan, đội viên phục vụ có kì hạn trong công an quần chúng. # đang hưởng phụ cấp sinh hoạt phí.

Sinh viên, học trò đang học giao hội dài hạn tại các trường đại học, cao đẳng, trung học, dạy nghề; Người khuyết tật hoặc bị suy giảm khả năng cần lao từ 21% trở lên; người mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của bệnh viện cấp huyện trở lên; Người đang trong tuổi thất nghiệp hoặc không có việc làm từ 6 tháng/năm trở lên;

Thành viên hộ gia đình thuộc diện nghèo hoặc cận nghèo; gia đình bị thiệt hại nặng nề do thiên tai, dịch bệnh, cháy nổ, tai nạn; gia đình ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo, khu vực III thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi; Đối tượng bảo trợ từng lớp đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.

L.H

Suy tĩnh mạch mạn tính - căn bệnh thời đại

Ở Việt Nam, trên thực tế bệnh cũng rất thường gặp nhưng chưa thực sự được cả bác sĩ lẫn bệnh nhân chú ý.

nguyên do và biến chứng

Tùy theo vị trí và nguyên do của thương tổn, bệnh giãn tĩnh mạch chi dưới được chia làm 4 nhóm:

- Nhóm giãn tĩnh mạch tiên phát hay còn gọi là giãn tĩnh mạch vô căn: ban sơ các tĩnh mạch bị giãn và dài ra, sau đó các van tĩnh mạch mất dần chức năng.

- Nhóm giãn tĩnh mạch thứ phát, thường do viêm tĩnh mạch: ở nhóm này, các van tĩnh mạch bị mất chức năng trước, sau đó các tĩnh mạch mới bị giãn và dài ra.

- Giãn tĩnh mạch ở người có thai do tác dụng của nội tiết tố sinh dục nữ và chèn lấn của tử cung bị to ra khi có thai.

- Giãn tĩnh mạch bẩm sinh do thất thường của thành tĩnh mạch làm nghẹt tĩnh mạch sâu và dò động tĩnh mạch (dạng u máu hỗn hợp).

Biến chứng trước tiên của suy tĩnh mạch là các biến chứng về rối loạn huyết động học: cẳng chân bệnh nhân bị sưng to, có triệu chứng đau buốt mặt sau ống chân, chuột rút về đêm. Nặng hơn, bệnh nhân có thể bị viêm tắc tĩnh mạch, chân nóng, sưng đỏ, các tĩnh mạch nông nổi rõ và viêm cứng.

Giai đoạn rút cuộc có thể diễn tiến đến tình trạng giãn to tuốt luốt hệ tĩnh mạch, các tĩnh giãn rất lớn, ứ trệ tuần hoàn và rối loạn dinh dưỡng của da chân phía dưới gây viêm loét, nhiễm trùng rất khó điều trị. Cục thuyên tắc có thể tách rời khỏi thành tĩnh mạch, đi về tim và gây thuyên tắc động mạch phổi, một biến chứng rất nặng có thể đưa đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời.

Suy tĩnh mạch mạn tính

Nguy cơ và hướng điều trị

yếu tố di truyền ảnh hưởng đến khả năng dễ mắc bệnh do những thay đổi về enzyme trong mô liên kết. Nữ thường bị nhiều hơn nam do ảnh hưởng của nội tiết tố nga, thai nghén lên thành tĩnh mạch, phải đứng lâu trong một số ngành nghề như bán hàng, thợ dệt, do khối lượng cơ thấp hoặc dùng giày không thích hợp. Các nguyên tố về cân nặng, chủng tộc cũng ít nhiều ảnh hưởng đến bệnh này.

Bên cạnh đó, thuốc ngừa thai do dùng nội tiết tố nên cũng là một nhân tố nguy cơ như thai nghén. Phẫu thuật có thể gây ra biến chứng huyết khối tĩnh mạch và viêm tĩnh mạch, những bệnh ăn theo chế độ ăn kiêng nhiều chất bột, ít chất xơ hay bị táo bón cũng rất dễ bị giãn tĩnh mạch.

Có 5 phương pháp điều trị chính nhằm kiểm soát hay chặn đứng sự trào ngược, loại bỏ trào ngược từ các tĩnh mạch nhánh và từ các mạch nối, chung cục là ngăn ngừa sự tràn trề mô kẽ do dịch thấm ra từ các vi quản.

Phương pháp dự phòng nhằm chặn đứng sự trào ngược và làm cho các lực tác động lên dòng chảy của tĩnh mạch được tốt hơn, bao gồm:

- Để chân cao khi nằm nghỉ, tập cơ mạnh hơn, tránh đứng hay ngồi lâu.

- Mang vớ thun hay quấn chân bằng băng thun, sửa lại vị trí bàn chân đối với các dị tật, tránh béo phì.

- Tập hít thở sâu.

- Ăn chế độ có nhiều chất xơ để tránh táo bón…

Phương pháp băng ép nhằm phục hồi áp suất chênh lệch giữa hai hệ thống tĩnh mạch nông và sâu duyệt hệ thống xuyên, giảm đường kính của lòng tĩnh mạch để tăng khả năng chuyên chở khi ngơi nghỉ cũng như khi gắng sức; điều trị nội khoa với các thuốc làm bền thành mạch…, nhưng phần nhiều chỉ có tác dụng trong tuổi đầu của giãn tĩnh mạch.

Một số bác sĩ chuyên khoa còn vận dụng phương pháp tiêm gây xơ tại chỗ với các thuốc làm xơ hóa lòng huyết quản.

giải phẫu với hai phương pháp chính: Lấy bỏ các tĩnh mạch nông bị giãn gọi là phương pháp Stripping bằng một phương tiện chuyên dùng cho phép rút các tĩnh mạch như chúng ta làm lòng gà và phương pháp Chivas lấy các đoạn tĩnh mạch bị giãn của hệ thống xuyên, đây là phương pháp điều trị khá triệt để có tỷ lệ tái phát thấp nhất.

Ngoài ra bây giờ người ta còn ứng dụng phương pháp làm lạnh với Nitơ lỏng âm 90 độ C để làm nghẹt lòng tĩnh mạch qua một ống thông trong lòng tĩnh mạch, tuy nhiên, phương pháp này cho tỷ lệ tái phát khá cao đến 30% các trường hợp.

Việc điều trị bệnh suy tĩnh mạch mãn tính chi dưới đòi hỏi sự kết hợp giữa dùng thuốc, Phẫu thuật và tập vật lý trị liệu tại các trọng điểm chuyên sâu về bệnh tĩnh mạch hay các khoa giải phẫu mạch máu tại một số bệnh viện lớn có uy tín nhằm đem lại hiệu quả cao và ngăn ngừa bệnh tái phát.

NGƯT.PGS.TS.BS. NGUYỄN HOÀI NAM

Phụ nữ thuộc 4 cung Hoàng đạo này dễ rung động, dễ yêu đương nhưng phải mất cả đời mới có thể quên được tình cũ

Bạch Dương (21/3 - 20/4)

Phụ nữ thuộc 4 cung Hoàng đạo này dễ rung động, dễ yêu đương nhưng phải mất cả đời mới có thể quên được tình cũ - Ảnh 1.

Một trong những nét tính cách trổi của Bạch Dương là sự bồng bột, một khi đã muốn thì phải giành lấy cho bằng được. Chính cho nên nên chỉ cần "tia" được đối tượng hợp tính, Bạch Dương sẽ không ngại ngần mà tấn công, đeo đuổi và giãi bày tình cảm. Bạch Dương khi yêu lúc nào cũng cuồng nhiệt và tràn đầy năng lượng. Họ yêu đắm đuối và không cần quan tâm điều gì, toàn tâm toàn ý cho người mình yêu nên thỉnh thoảng vượt qua mức trở nên cuồng si. Cũng vì hết mình nên thỉnh thoảng ngọn lửa nồng hậu đốt cháy luôn tình của Bạch Dương, hầu hết các chuyện tình của họ đều sớm nở tối tàn, nhanh đến mà cũng nhanh đi. Vậy nhưng, Bạch Dương không phải là người dễ quên, tốc độ chạnh lòng của họ nhanh nhưng không có tức là họ hời hợt trong tình cảm. Đối với người mình đã từng dành hết tâm tư để thương thì Bạch Dương phải mất cả đời mới có thể quên đi hình bóng của người đó.

Cự Giải (22/6 - 22/7)

Phụ nữ thuộc 4 cung Hoàng đạo này dễ rung động, dễ yêu đương nhưng phải mất cả đời mới có thể quên được tình cũ - Ảnh 2.

Người thuộc cung Cự Giải thường mẫn cảm và dễ xúc động. vì vậy, họ rất dễ bị rung động trước những cử chỉ, hành động dù là nhỏ nhất của người đối diện. Cự Giải thẳng tuột rơi vào lưới tình cũng vì lẽ đó. Tuy vậy, Cự Giải cực kỳ nghiêm chỉnh trong chuyện tình cảm, họ không có khái niệm yêu "chơi", một khi đã xác định yêu đương là sẽ dốc khôn xiết mình và sẵn sàng hy sinh bản thân mình để bảo vệ ý trung nhân lẫn ái tình. Đối với những cuộc tình đã qua, Cự Giải khó lòng mà quên được. Trong họ luôn vương vấn những ngày tháng hạnh phúc của cả hai, họ nhớ người cũ đến từng chi tiết. Thế nên Cự Giải dù rung động rất nhiều nhưng khó có thể xóa bỏ những kỷ niệm trong quá khứ.

Bọ Cạp (24/10 - 22/11)

Phụ nữ thuộc 4 cung Hoàng đạo này dễ rung động, dễ yêu đương nhưng phải mất cả đời mới có thể quên được tình cũ - Ảnh 3.

ngoài mặt Bọ Cạp có vẻ là người thâm trầm, bàng quan thế thôi nhưng lại là người sống cực kỳ tình cảm. Bọ Cạp rất ít khi rơi vào tình ái vì họ cảm giác không ai có thể hiểu nổi mình. Vậy nhưng một khi đã cho 1 người nào đó bước vào thế giới nội tâm của mình, Bọ Cạp sẽ không ngại mà trình bày con người thật của mình và bất chấp mọi thứ để yêu cuồng si, mãnh liệt, nhất kiến chung tình. Khi yêu, Bọ Cạp sẽ làm quờ mọi thứ để thương tình và chiều chuộng người tình, khiến họ cảm thấy hạnh phúc. tình yêu của Bọ Cạp sâu đậm nên lúc đổ vỡ cũng vô cùng thống khổ và khó quên. Vì quá yêu nên đành hóa hận, Bọ Cạp không bao giờ nhìn mặt lại người cũ là vì lẽ đó. Người thuộc cung Hoàng đạo này một là yêu cả đời, hai là hận cả đời chứ không hề có chuyện lãng quên.

Ma Kết (22/12 - 19/1)

Phụ nữ thuộc 4 cung Hoàng đạo này dễ rung động, dễ yêu đương nhưng phải mất cả đời mới có thể quên được tình cũ - Ảnh 4.

Người thuộc cung Ma Kết có vẻ ngoài bất cần nhưng bên trong lại cực kỳ rét mướt và tình cảm. Họ tỏ ra không quan hoài ái tình nhưng một khi đã yêu rồi thì sẽ ưu tiên người ấy lên trên hết, cố kỉnh nhiều hơn để vun đắp mối quan hệ ngày một khăng khít. Cũng chính vì lụy tình như vậy nên khi chia tay, Ma Kết khó mà quên được tình cũ, lúc nào cũng âm thầm dõi theo từng bước chân của họ. Đừng để vẻ ngoài mạnh mẽ, rắn rỏi của Ma Kết đánh lừa, thực chất họ là người nặng tình, sở hữu tâm hồn phong phanh, dễ vỡ.

(* thông báo chỉ mang tính chất tham khảo)

(Nguồn: Sohu)